Images

CHỮ NHẪN TRONG ĐẠO PHẬT VÀ Ý NGHĨA

Người xưa thường hay nói: "Một điều nhịn là chín điều lành" hay “chữ Nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu”.


Trong cuộc sống thường ngày, vui vẻ an lạc tinh thần thoải mái là một mong ước lớn nhất của con người. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều sự việc ngoài ý muốn, do mình tạo, hay người khác tạo ra, gây cho mình bực bội khó chịu, nóng giận trong lòng. Nếu không biết cách hóa giải nên chúng ta giải quyết bằng lời nói hành động tiêu cực, dẫn đến hiệu quả không tốt đẹp, và tạo nghiệp chẳng lành cho kiếp sống hiện tại, và chịu quả báo xấu về sau.
1. Định nghĩa về chữ Nhẫn

Nhẫn là nhẫn nhục, là nhịn, là chịu đựng phần kém về mình, phần thiệt thòi về mình. Đây là pháp tu của Bồ Tát: Bố thí trì giới… Mà mục đích theo kinh phật là tu và độ chúng sanh ( lợi mình lợi người).Nếu không biết CHỮ NHẪN thì trong tâm hồn luôn có một ngọn lửa, chờ gió nhẹ thổi tới là bùng cháy. Khi mà cháy thì các vị biết cái gì rồi, nhiều người không hiểu nói nhẫn là nhục lắm… Đó chỉ là sự đè nén, chịu đựng… Nếu vậy chưa phải là chữ Nhẫn.Nhẫn nhục là giữ thái độ hòa hiếu, hóa giải những phiền não do sự sân giận đem lại, và khi sân giận mang lại hầu như không có kết quả tốt đẹp như câu ngạn ngữ “giận quá mất khôn” mà chúng ta từng nghe.

2. Những trường hợp nào chúng ta cần áp dụng chữ Nhẫn

- Thứ nhất là bị người khác xúc phạm
Người nhỏ hơn, hay bằng mình xúc phạm : vô lễ, hỗn, có thái độ chống đối…Ví dụ: Khi ở nhà chúng ta bị con cháu vô lễ nếu không biết nhẫn thì mình phải sao ? chửi cha nó chứ không thèm chửi nó, hoặc giận nữa thì chửi ông nội nó.. Nhiều khi cháu mình nó sai, mình kêu lại rầy, nó đứng chống nạnh trả lời “ ông là cái thá gì mà nói tui”. Đối với phật tử chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta không biết chữ Nhẫn thì việc tu tập chưa đạt ý nguyện, có khi mình là người quy y lâu, đến chùa tu học, công quả cũng lâu, nay gặp mấy đứa nhỏ hơn mới vô, mình góp ý nó, nó nói bà lấy quyền gì mà nói tui, chùa này chỉ có trụ trì thôi…Bị người lớn hơn, có uy quyền hơn xúc phạm: Chèn ép, tước đoạt hết quyền lợi, tại vì thấy mình nhỏ, nghĩ rằng không biết, mình ngu…nên dùng cái quyền người lớn để dọa nạt… Nên chúng ta là người lớn hơn phải dùng điều đúng để đối xử.Còn cả hàng trăm hàng ngàn trường hợp làm cho ta không được như ý: Có những trường hợp từ trên trời rớt xuống, là thế nào, thiên tai bão lũ, thời tiết nóng lạnh, mưa gió bất thường, sụp đất, đá lỡ… Chúng ta phải dùng chữ Nhẫn mà tu, nếu không tu chữ Nhẫn, gặp việc tức giận quá, không biết làm sao, ra đứng ngoài sân nhìn lên cao la làng lên, “trời ơi ngó xuống mà coi, sao ông ăn ở ác quá…”thực chất có trời nào nghe mình la không? Trời là lòng mình, như “câu truyện vui đổi ngỗng cầu mưa”, câu truyện muốn nói ở đời ai cũng muốn thuận lợi về mình, nếu khi không được thì phải cầu cạnh, mà người có khả năng giải quyết cho mình, thì còn biết bao nhiêu việc người khác nữa, nên nếu không được như ý của mình thì phải nhẫn.Còn có những trường hợp do mình tạo ra, hay trong gia đình nhỏ bé của mình, chồng nói một tiếng, vợ không nhẫn cãi lại, tức giận đánh nhau, người nào cũng không chịu phần lỗi, cho mình là đúng. Trong trường này một trong hai người dùng chữ Nhẫn có thể nhận trách nhiệm về mình “ anh ơi…em biết lỗi rồi mà !” thì mọi việc sẽ theo diễn tiến khác, có khi tốt đẹp hơn rất nhiều.Ví dụ: đang bị chửi tức quá không làm gì được, gặp đứa nhỏ đi học về, mắng cho một trận.

- Thứ hai, đối nghĩa với chữ nhẫn nhục là nóng giận
Chúng ta thấy thường ngày trong cuộc sống, một người nào đó, không thấy họ nhẫn nhịn, thì điều gì ở họ cho chúng ta dễ nhận ra họ? “ sân” sân giận là một trong ba món độc của thế gian.” Một niệm sanh tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”Hoặc chúng ta sống chung, hay hợp tác làm ăn với những người này thì không thuận lợi cho mấy. trong gia đình vợ chồng sống với nhau một nhà, chồng nóng nảy quá, thì làm khổ vợ con, hoặc có khi trong nhà chẳng may có đứa con nóng nảy thì cũng vậy.Có một dạng tương đương với sân “phẫn” bên ngoài không thấy biểu hiện gì, nhưng trong lòng họ đang dồn nén để tìm các trả thù, trong Phật giáo không chấp nhận cách nhẫn nhục này, mà nó là nóng giận đang biến tướng, dạng tâm lý này rất tai hại…
- Thứ ba, vậy thì nhẫn nhục cho chúng ta kết quả gì?
Nếu chúng ta thực hiện được chữ Nhẫn, thì bản thân rất được nhiều người thương mến, dễ gần, gia đình hạnh phúc, xã hội được tốt đẹp hơn. Xã hội Việt Nam chúng ta thường hay nói về mối quan hệ tình cảm giữa mẹ chồng và nàng dâu. Và sự việc đều không tốt đẹp bao giờ cũng đổ lỗi cho những bà mẹ chồng, mà nguyên nhân sâu xa nhìn chung là nghiêng về nàng dâu. Vì bởi cô dâu là người ngoài, họ có mặt tại nhà chồng để làm gì, và họ được gì? Nên họ phải là người phải hội đủ tiêu chuẩn mà các bà mẹ chồng đưa ra. Nếu hiểu điều đó cô dâu cố gắng sống tốt, bên cạnh đó áp dụng chữ Nhẫn thì mọi điều sẽ tốt đẹp:“Học pháp nhẫn chẳng sanh oan tráiGiữ tâm không khỏi phải lụy phiềnSống cõi đời thông thả bình yênHướng nẽo đạo diệu huyền trực chỉ”Hơn nữa thực hiện được chữ Nhẫn cũng là giữ sức khỏe cho mình: Tim, huyết áp..Để trả hết nghiệp: Theo đạo Phật sở dĩ chúng ta có mặt trong thế giới này, là do chúng ta tạo nghiệp hoặc thiện hoặc chẳng thiện, nên chúng ta sống ở đây là để trả nghiệp, cho mau hết, cho dứt để có được an vui. Vừa trả nghiệp mà vừa làm sạch nghiệp, cũng giống như vừa tu mà chỉ người khác tu, để làm thay đổi Nghiệp. Vừa nhẫn mà vừa tìm phương tiện khéo léo để họ cũng nhẫn như mình, cũng từ bi nhân từ như mình, khi đã hiểu ra thì sạch nghiệp với nhau, và sống an vui hạnh phúc đời này và đời sau.
Images

CHỮ NHẪN TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

Chữ Nhẫn được ghép từ hai chữ: Đao ở trên và Tâm ở dưới. Tâm( tức là trái tim) mà không chịu nằm yên thì Đao ( tức con dao) sẽ phập xuống tức thì. Vậy đấy, tự mình mà nhẫn nhịn được thì đao kề cổ vẫn bình yên vô sự, bằng không thì tai họa sẽ giáng xuống đầu mình trước tiên.
Nhẫn trở thành cách cư xử trong mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với mục đích, lý tưởng. Trong mối quan hệ giữa con người với con người, nhẫn là nhẫn nhịn. Trong mối quan hệ giữa con người với mục đích, lý tưởng, nhẫn trở thành nhẫn nại. Nhẫn chính là sự tu dưỡng đạo đức và tu dưỡng phẩm hạnh.
Chữ Nhẫn trong cuộc sống của người Việt
Nhẫn là đặc trưng của nền văn minh Đông Á, trở thành quy tắc ứng xử từ gia đình đến xã hội. Việt Nam là nước có nền văn hoá nông nghiệp với đặc điểm trọng tình khiến người Việt Nam lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Do đó, người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn để giữ được thuận hoà. Cũng bởi vậy mà chữ Nhẫn có một ý nghĩa, vị trí rất quan trọng trong nếp sống của người Việt. Một gia đình có êm ấm, hoà thuận hay không phần lớn là do sự nhẫn nhịn quyết định.
Cái gốc trăm nết
Nết nhẫn nhịn là cao
Cha con nhẫn nhịn nhau
Vẹn tròn đạo lý
Vợ chồng nhẫn nhịn nhau
Con cái khỏi bơ vơ
Anh em nhẫn nhịn nhau
Trong nhà thường êm ấm
Bạn bè nhẫn nhịn nhau
Tình nghĩa chẳng phai mờ...

      Một gia đình có nhiều nhân khẩu cùng chung sống dưới một mái nhà, nếu không có được sự nhẫn nhịn thì khó mà hoà hợp được. Đạo lý ấy cũng đúng trong một đất nước.
       Người có thể nhẫn nhịn nhau vì gia đình như vậy thì cũng có thể biết cách nhẫn nhịn, ứng xử khéo léo ngoài xã hội. Nhẫn nhịn chính là cái cột chống đỡ cho tinh thần đua tranh. Nếu lúc nào cũng nghĩ đến sự nhẫn nhịn thì thắng không kiêu, bại không nản, có thể tiến, có thể lui theo ý muốn của mình.
Chữ Nhẫn trong nghệ thuật
Thực tế đã chứng minh rằng tất cả những gì con người sống và làm đều được nâng trên đôi cánh của sự kiên nhẫn.
    Danh hoạ Tây Ban Nha Picatso đã phải âm thầm sáng tạo suốt 77 năm để có được 50.000 tác phẩm hội họa. Ông đã từng phải tự giam mình trên đồi Mông - mác suốt 5 năm trong thời kỳ Lam. Nhà văn Pháp Hônôrê Đờ Banzắc cũng vậy, ông phải trải qua bao nhiêu sự thất bại ở các nghề khác để thành công trong nghề văn. Với 95 cuốn tiểu thuyết trong bộ “Tấn trò đời”, ông trở thành bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực phê phán Pháp. Victo Huygo, L.Tônxtôi đã làm việc cần cù để có được “Những người khốn khổ”, “Chiến tranh và hoà bình”, “Anna Karênina”... Thiên tài Puskin kiên trì trong “sự lao động yên lặng” làm loé sáng những ý tưởng. Gôganh – Thiên tài hội hoạ Pháp, trường phái Ấn tượng - phải lìa bỏ vợ con và cuộc sống giàu sang để tìm không gian sáng tạo. Còn Nhà viết kịch Môlie đã lao động miệt mài đến hộc máu trên sàn diễn... Đó là những tấm gương của các bậc vĩ nhân, những con người đã cống hiến những giá trị bất diệt cho nhân loại. Nhưng cả cuộc đời của họ là những trang sách, những bức họa, những công trình thấm đẫm mồ hôi và sự khổ luyện. Họ tự nguyện biến mình thành những người nô lệ lao động khổ sai cho nghệ thuật, cho lý tưởng. Gioócgiơ Xăng đã nói “Nghệ thuật không phải là một năng khiếu có thể phát triển mà không cần mở rộng kiến thức về mọi mặt. Cần phải sống, phải tìm tòi, phải xào nấu lại rất nhiều, phải yêu rất nhiều và chịu nhiều đau khổ, đồng thời phải không ngừng kiên trì làm việc”. Mác cũng khẳng định “Chỉ những người nào không sợ chồn chân mỏi gối, trèo lên những con đường nhỏ bé gập ghềnh của khoa học thì mới hi vọng đạt đến đỉnh cao xán lạn”.

Chữ Nhẫn đối với sức khoẻ

Mấy thể kỷ trở lại đây, nhẫn nhịn luôn là luận đề quan trọng trong tài liệu thần học. Khái niệm nhẫn nhịn bắt đầu được các tài liệu lịch sử chăm sóc bảo vệ sức khoẻ chú ý đến. Lợi ích của của sự nhẫn nhịn chủ yếu biểu hiện ở chỗ giảm bớt tâm trạng chịu đựng như đau buồn, tức giận hoặc lo âu. Dựa vào những nghiên cứu của các nhà tâm lý học mà xét, nhẫn nhịn có thể đem đến tinh thần khoẻ mạnh, thân thể khoẻ mạnh, năng lực tự khống chế... Các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá chỉ số sức khoẻ của con người và chỉ số nhẫn nhịn của họ. Sau khi thu thập được những thông tin này, họ tiến hành thống kê và kết luận: nhẫn nhịn có thể thúc đẩy sức khoẻ của con người. Chỉ số nhẫn nhịn của một người càng cao thì tâm lý của người ấy càng khoẻ mạnh. Người ta cũng chia con người thành một số nhóm để tiến hành thực nghiệm, chấp nhận việc trị liệu khác nhau. Họ phát hiện người tham gia tâm lý trị liệu có mức độ sức khoẻ không bằng người tham gia trị liệu nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn có thể làm giảm đau đớn, giảm khả năng mắc bệnh tim mạch. Người nhẫn nhịn từ trong lòng thật sự thì sức mạnh cá nhân và dũng khí của họ sẽ tăng lên, họ sẽ càng có chủ kiến khi quyết định đối mặt với những điều làm tổn thương họ. Những người không đủ sự nhẫn nhịn thì sức mạnh và dũng khí của họ cũng bị giảm đi.
Trong cuốn “Luận về chữ nhẫn” của Mạnh Chiêu Quân có viết :  Bạn chớ nên cáu gắt, cáu gắt sẽ làm tổn thương hoà khí; bạn chớ nên tức giận, tức giận sẽ làm huỷ hoại nguyên khí; bạn chớ nên đùa giỡn, đùa giỡn sẽ làm hỏng tài khí; bạn phải nhẫn nhịn, nhẫn nhịn sẽ có được thần khí”.

“… Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường tiến thân
Có khi nhẫn để xoay vần
Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hòa
Có khi nhẫn để vị tha
Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù
Có khi nhẫn: tỉnh giả ngu
Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường
Có khi nhẫn để vô thường
Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai
Có khi nhẫn để lắng tai
Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng
Có khi nhẫn để bao dung
Ta vui người cũng vui cùng có khi
Có khi nhẫn để tăng uy
Có khi nhẫn để kiên trì bền gan …”


Có 12 loại “NHẪN”:
  • Nhẫn Nại = công việc nhiều rắc rối khó khăn, tiến hành chậm chạp, vẫn quyết trí làm cho được.
  • Nhẫn Nhục = Việt Vương Câu Tiễn thất bại, chịu đủ thứ hành nhục, khổ phiền, nằm gai nếm mật, chờ thời cơ phục quốc.
  • Nhẫn Nhịn = Chờ cho đúng thời cơ, chờ cờ đến tay, không nôn nóng. Đôi khi để kẻ khác giành lấy tiên cơ, ưu thế trước.
  • Nhẫn Thân = Phục Hổ Tàng Long để kẻ thù đang thế mạnh không tìm diệt mình. Khi lành bệnh, đủ lực sẽ xuất hiện chọc trời khuấy nước.
  • Ẩn Nhẫn = Trốn tránh, chịu đàm tiếu, xúc xiểm, không còn tỏ ý ham danh đoạt lợi. Có khi trốn tránh luôn, cũng có khi do thời chưa đến.
  • Nhẫn Hận = Ức lắm, thù lắm, bị xử ép nhưng không tỏ rõ thái độ bất bình, oán hận.
  • Nhẫn Hành = Thấy đã có thể hành động được rồi, nhưng còn kiên tâm chờ thêm cho chắc.
  • Nhẫn Trí = Khôn khéo hơn thượng cấp rất xa, nhưng giả ngu khờ hết mức.
  • Nhẫn Tâm = Thấy ác, thấy nạn, bỏ qua không có thái độ bênh vực, cứu giúp.
  • Tàn Nhẫn = Bất Nhẫn, tự làm những việc không màng tới lương tâm.
Tự tìm được cho mình một chữ nhẫn thích hợp sẽ giúp ích cho cuộc sống , và nếu biết sử dụng chữ nhẫn sao cho đúng cách, sẽ mang lại cho con người một sức mạnh vô cùng!
Chữ nhẫn là chữ tương vàng,

Ai mà nhẫn được, thì càng sống lâu ...

Images

10 ĐIỀU " LỜI ÍT, Ý NHIỀU" CỦA NHÀ PHẬT LÀM THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI BẠN


Những đạo lý kinh điển này khi ngộ ra, con người sẽ cảm thấy thanh thản, nhẹ nhõm và hoan hỉ hơn rất nhiều.

Cuộc sống này có rất nhiều nỗi khổ, niềm đau do chúng ta tham ái và chấp ngã mà ra. Càng coi trọng bản ngã, càng tham muốn nhiều thì nỗi khổ, niềm đau sẽ có cơ hội phát sinh. Nhất là những người có sắc đẹp, hình tướng, dung mạo dễ coi, họ sẽ đau khổ nhiều khi bị người khác coi thường, khinh chê.
Đạo Phật nói cuộc đời là biển khổ mênh mông không có ngày thôi dứt, vì nhân loại lúc nào cũng đấu tranh giành giựt, chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên để rồi giết hại lẫn nhau, lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu. Con người đau khổ bởi sinh già bệnh chết, tâm đau khổ vì phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Đạo Phật dạy rằng, không phải khi con người đạt được mọi thứ mình mong muốn là ta đã có sự thành đạt hạnh phúc. Hạnh phúc chân thực chỉ đạt được khi ta được giải thoát khỏi mọi sự đau khổ phiền não trong tâm trí. Và chỉ khi thấy được sự thật và chân lý của cuộc đời, tức là giác ngộ, ta mới đạt được giải thoát hoàn toàn.
Đạo lý kinh kiển nhà Phật là những triết lý sống thấm nhuần tư tưởng giác ngộ và tĩnh tại của Phật giáo, như dòng suối êm đềm mà sâu lắng, con người càng sống càng thấu hiểu và càng ngộ ra nhiều điều từ đó.
1. Hết thảy đều là hư ảo, cuộc đời con người bắt đầu từ cát bụi rồi lại trở về với cát bụi, vạn vật biến chuyển không ngừng, nhân duyên sinh rồi diệt. Không có bất cứ điều gì là tồn tại vĩnh hằng.
 2. Không thể lỡ lời, lời nói ra như gió thoảng, nhưng đến cả cơ hội thương tiếc cũng không có đâu.
 3. Sắc tức là không, không tức là sắc, sự vật nào cũng có hai mặt, vấn đề nào cũng có hai phương diện.
 4. Nhân sinh trên đời như thân ở trong bụi gai, tâm bất động nhân không vọng động, người không động tâm thì không làm bậy, người động tâm rồi nhất định phải chịu đau đớn. Thiện ác, sướng khổ đều bắt đầu từ suy nghĩ mà ra.
 5. Phật tại tâm, Phật không ở đền chùa miếu mạo mà ở trong sự nhận thức, giác ngộ của tự bản thân mỗi người.
 6. Vợ chồng là duyên phận, tiền kiếp ngoái nhìn nhau 500 lần mới đổi lại một lần gặp gỡ thoáng qua trong kiếp này.
7. Đại bi vô lệ, cực thịnh tất suy, sự vật phát triển đến cực điểm sẽ chuyển hóa theo hướng ngược lại.
8. Đời là bể khổ, quay đầu là bờ, buông dao xuống đất, thành Phật tại chỗ.
9. Bồ đề vốn vô thụ, không sinh thì không diệt, không tham thì không khổ đau.
10. Ta không xuống địa ngục, thì ai xuống địa ngục, địa ngục vốn không tồn tại, chỉ vì tâm sinh dục vọng mà sinh ra. Dục vọng càng lớn, thống khổ càng mãnh liệt, địa ngục càng rộng mở.
Images

TRIẾT LÍ CỦA NHÀ PHẬT TRONG CUỘC SỐNG

Cuộc đời không phải lúc nào cũng đầy khó khăn và bất hạnh, điều quan trọng nhất chính là suy nghĩ của bạn. thay đổi suy nghĩ thì sẽ thay đổi được cuộc đời.
3 triết lý sau của đạo Phật sẽ giúp bạn có cái nhìn thoáng và nhẹ nhàng hơn về cuộc đời.
1. Dukkha (khổ đế): Đời là bể khổ
Chân lý này không đơn thuần là sự khẳng định cuộc sống là đau khổ và bi thương mà con người còn sống thì buộc lòng phải chấp nhận.
Đúng là cuộc đời mỗi người không ai có thể tránh được những buồn phiền, khổ đau, mất mát, kỳ vọng vào những điều vượt quá khả năng hay không phù hợp với hoàn cảnh dễ khiến ta càng thêm thất vọng khi không đạt được nó.
Chính vì vậy, một khía cạnh khác của chân lý “Đời là bể khổ” chính là khuyên ta đừng nên mang những suy nghĩ viễn vông, không thực tế.
Hãy chấp nhận quy luật sinh, lão, bệnh, tử như một điều tất yếu của cuộc sống. Đừng bao giờ tự lừa dối mình bằng những suy nghĩ như cuộc sống này là dễ dàng và không có đau khổ, hãy chấp nhận sự không hoàn hảo với một trái tim bao dung và cởi mở.

2. Anitya: Đời là vô thường
“Vô thường” mang nghĩa một cuộc sống diễn tiến không ngừng, luôn luôn phát triển, luôn luôn mới mẻ. Chúng ta không thể sống lại thời điểm đã qua, “không thể tắm hai lần trên một dòng sông”.
Mỗi ngày trôi qua là mọi sự đều thay đổi, cơ thể và suy nghĩ của chúng ta cũng khác. Mọi thứ đều thay đổi, đều vô thường. Chẳng có gì là tuyệt đối, vĩnh cửu, tận cùng, và ta luôn có thể thay đổi cuộc đời mình.
Vì vậy, đừng sợ hãi khi sự thay đổi chạm ngõ nhà bạn, hãy chấp nhận nó. nếu như bạn sợ sự vô thường có thể phá huỷ những điều tuyệt vời mình đang có thì hãy biết trân trọng từng giây từng phút của hiện tại, của mối quan hệ đang có, của sức khoẻ, tâm hồn, công việc, tuổi trẻ,… còn nếu bạn đang đau khổ thì cũng đừng tuyệt vọng vì hiện thực khổ đau, ngày mai rồi sẽ khác.
3. Anatma: Mình là vô ngã
Nếu như vạn vật là vô thường thì bản thân mỗi người là vô ngã. Bản chất của một người không phải là điều bất đi bất dịch mà có thể thay đổi. Có thể thay đổi, ký ức thay đổi, suy nghĩ và tính tình cũng có thể thay đổi.
Chúng ta sẽ thay đổi theo môi trường xung quanh, hoàn cảnh sống hoặc theo cả cách chúng ta muốn thể hiện với mọi người.
Nên đừng bao giờ đóng khung bản thân và cũng đừng đánh giá người nào chỉ qua hành động đơn lẻ của họ
Chúng ta đều có thể thay đổi, hôm nay tốt hơn hôm qua, đừng ngại và đừng nghĩ rằng con người mình là bất biến. Chúng ta có thể tha thứ cho người khác và tha thứ cho chính mình. Hãy nhớ rằng, trong từng khoảnh khắc, ta đều mới mẻ.

Images

ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH

Khi nhắc tới khái niệm “đạo đức kinh doanh”, người ta thường cho rằng đó là một yếu tố rất trừu tượng hoặc không thực tế. Nhưng thực tế lại cho thấy mức độ phát triển bền vững của doanh nghiệp gắn liền với đạo đức kinh doanh, sự tăng trưởng về lợi nhuận gắn liền với việc nghiêm túc tuân thủ đạo đức kinh doanh.

Theo ông Phillip V. Lewis, giảng viên trường Đại học Abilene Christian, Hoa Kỳ “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để chỉ dẫn hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”. Nhìn chung, đạo đức bắt nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học, liên quan tới những cam kết về đạo lý và trách nhiệm của mỗi người, mỗi tổ chức.
Vài trò to lớn của đạo đức trong kinh doanh 
Đạo đức kinh doanh chính là yếu tố nền tảng cho sự tin tưởng của khách hàng đối với doanh nghiệp, tăng cường sự trung thành của nhân viên, điều chỉnh hành vi của doanh nhân, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp và từ đó nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn đạt được thành công bền vững, các doanh nghiệp phải xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp mình.
Hai Giáo sư John Kotter và James Heskeu thuộc Trường Đào tạo quản lý kinh doanh Harvard, tác giả cuốn sách “ Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích”, đã phân tích kết quả khác nhau của các công ty với những truyền thống đạo đức khác nhau. Công trình nghiên cứu của họ cho thấy trong vòng 11 năm, những công ty chú trọng đạo đức trong kinh doanh đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi những công ty đối thủ không xem trọng các chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được 36%). Giá trị cổ phiếu của những công ty trên thị trường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ kém hơn thì chỉ số này chỉ là 74%). Lãi ròng của các công ty chú trọng đạo đức trong kinh doanh ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756%.Như vậy, chú trọng đạo đức trong kinh doanh sẽ mang lại sự phát triển cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổ chức đó, từ đó dẫn tới thành công.
Những công ty chú trọng đạo đức trong kinh doanh đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% […] Giá trị cổ phiếu của những công ty trên thị trường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ kém hơn thì chỉ số này chỉ là 74%). Lãi ròng của các công ty chú trọng đạo đức trong kinh doanh ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756%.
Ở Việt Nam, bài toán đạo đức kinh doanh còn bỏ ngỏ…
Đứng trên giác độ các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp dường như vẫn chưa chú ý đến sự cần thiết và tất yếu của đạo đức kinh doanh. Với mong muốn đạt được lợi nhuận trong thời gian càng sớm càng tốt, không ít doanh nghiệp coi vấn đề đạo đức như là yếu tố phụ, vậy nên khó tránh khỏi tình trạng làm ăn theo kiểu “chộp giật”, hay mang tính “ăn xổi”, điều này dẫn tới hiện tượng làm hàng giả khá phổ biến trên thị trường.
Theo báo cáo của Đội Quản lý thị trường thành phố Hà Nội, tính từ đầu năm đến tháng 11/2014, các lực lượng phối hợp trên địa bàn thành phố đã thanh tra, kiểm tra 56.052 vụ, phát hiện 51.228 vụ vi phạm liên quan đến buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép và trốn thuế…. Trong đó có 3.772 vụ vi phạm hàng cấm, hàng nhập lậu; 12.878 vụ gian lận thương mại; 429 vụ hàng giả kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ; 34.149 vụ kinh doanh trái phép, trốn thuế…
Nghiêm trọng nhất là các vấn đề liên quan đến sự nguy hiểm cho sinh mạng con người phát sinh từ việc suy thoái đạo đức kinh doanh.
Thực ra đây là vấn đề đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực trên mỗi mâm cơm, từng ngày người dân phải cảnh giác với không biết bao nhiêu vụ thực phẩm bẩn được đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng và thường là vụ sau lại có mức độ nghiêm trọng hơn vụ trước cả về số lượng lẫn chất lượng.
Theo tìm hiểu của đồng nghiệp Báo Tuổi trẻ, hai cơ sở sản xuất là Công ty TNHH Minh Oanh và chi nhánh của doanh nghiệp tư nhân Sản xuất – Thương mại Hà Tiết, ở ấp 7, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đã sản xuất ra một loại cao “độc nhất vô nhị” bởi nguyên liệu chính là từ… lòng lợn thối và phân lợn. Họ “nấu cao” bằng cách mua lòng lợn thối, phế phẩm ruột lợn (bã phân) về rồi đổ chung vào nồi i-nox lớn có trục quay cùng với xút (NaOH), bột đinh hương, phẩm màu và một số hóa chất khác (tất cả đều được nhập từ Trung Quốc) để vừa tẩy, làm lòng lợn nhũn ra, vừa át mùi hôi thối sẵn có. Khi tất cả đã được nghiền nhuyễn như bột, đồng thời chuyển thành dung dịch màu nâu, nguyên liệu “cao” này tiếp tục được gạn lọc rồi trộn với cồn 90 độ. Ngâm trong môi trường như vậy khoảng nửa tháng, “cao” được vớt ra, sấy khô và đóng thành từng miếng mang bán hoặc… xuất khẩu. Với nhãn mác rằng “cao thuốc tiên” có tác dụng rất tốt cho những người hiếm muộn, làm trắng da.
Một ví dụ khác từ món ăn hàng ngày, đó là món ăn từ vịt là món ăn dân dã, rất phổ biến trong các bữa ăn gia đình hay các bữa tiệc chiêu đãi người thân. Từ vịt người ta có thể chế biến ra thành nhiều món, nhưng vịt nướng luôn là món hấp dẫn người dân bởi mùi vị và màu sắc.
Thế nhưng công nghệ chế biến món ăn bình dân này “siêu bẩn”. Vịt mua về được vứt đống, bừa bộn trên những sàn mổ nhầy nhụa nước hôi thối. Dưới nền tiết khô đã đóng cạnh, phân vịt vung vãi, ruồi muỗi bu đậu khắp nơi. Tất cả những dụng cụ tham gia vào công việc giết mổ như dao, chậu, khăn… đều không hề được lau rửa sạch sẽ mà được vứt bừa bộn dưới nền đất bẩn thỉu. Mùi hôi nồng nặc cả khu mổ. Đa phần vịt được đưa vào chế biến đã có phẩm chất kém, để lâu ngày. Các nơi mổ vịt sống cũng thường dùng loại vịt cỏ của Trung Quốc to mập nhưng nhạt thịt và nhạt da. Để làm bắt mắt, các chủ quán phết lên thịt vịt một lớp phẩm màu hoặc nhúng vào hóa chất hương liệu màu khiến sau khi nướng vịt trông rất bắt mắt và có mùi thơm hấp dẫn. Các hóa chất, phẩm màu này đều độc hại và đã bị cấm, song trên thực tế vẫn được các chủ quán sử dụng một cách phổ biến.
Trên đây là hai ví dụ điển hình cho thấy hiện không có yếu tố câu thúc người ta quan tâm đến đạo đức trong kinh doanh. Đạo đức trong kinh doanh là một phạm trù rất rộng, câu chuyện còn dài nhưng có lẽ không thừa khi chúng ta nghiệm lại câu nói của một giáo sư người Mỹ khi đề cập đến đạo đức trong kinh doanh“Cộng đồng cần phải được bảo vệ để tránh khỏi những con người đặt lợi ích cá nhân lên trên hết”.
Không một pháp luật nào, dù hoàn thiện đến đâu chăng nữa cũng có thể là chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinh doanh. Nó không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc khuyến khích mọi người làm việc thiện, tác động vào lương tâm của mỗi người.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào khiến cho mọi người quan tâm đến đạo đức trong kinh doanh, câu trả lời có lẽ cần quay lại văn hóa cổ truyền, đó là “làm điều thiện gặp thiện báo, làm điều ác gặp ác báo”, “gieo nhân nào, gặp quả nấy”. Hiểu biết và tôn trọng các giá trị truyền thống này sẽ luôn mang lại điều phúc lành cho mọi người.
Images

ĐẠO PHẬT VÀ KINH DOANH

Một cuộc phỏng vấn của Như Hải với Hòa thượng Thích Viên Minh trao đổi về đạo phật và kinh doanh, Mình muốn chia sẻ với các bạn.
Như Hải (NH): Thưa thầy, có mối liên hệ nào giữa đạo Phật và kinh doanh hay không ạ?
Hòa thượng Thích Viên Minh (HT.TVM): Cần phải biết doanh nhân tìm đến đạo Phật nhằm mục đích gì? Có thể có doanh nhân làm ăn thất bại, nên tìm đến đạo Phật để tìm cách làm ăn thành công hơn. Thật ra, Phật giáo không loại trừ điều này, vì là nhu cầu sinh hoạt của loài người (kinh doanh tạo lợi nhuận). Nếu một người thông suốt được phương diện đạo đức của Phật giáo, họ sẽ làm tốt những sinh hoạt trong đời thường, bất kỳ sinh hoạt nào, không nhất thiết là kinh doanh.
Người xưa nói ‘phi thương bất phú’ là không kinh doanh thì không thể giàu được, như vậy phải chăng mục đích của kinh doanh là chỉ để làm giàu? Thực ra làm giàu cũng không hoàn toàn sai. Đức Phật dạy nếu một người có năng lực làm giàu nhờ công sức và trí tuệ của chính mình, và biết sử dụng của cải vật chất đó làm lợi mình lợi người thì rất tốt. Còn cái giàu do lừa dối để lợi mình hại người thì không được.
Hiện nay nhiều người nói “thương trường như chiến trường”, là sát phạt lẫn nhau v.v. Ví dụ thứ nhất: Nếu một hợp đồng giữa hai công ty A & B mà bên nào cũng chỉ nghĩ làm sao thu lợi nhiều nhất, không hề nghĩ đến quyền lợi của bên đối tác, thì đúng là ‘chiến trường’ chứ còn gì nữa! Điều đó rất đáng sợ. Ví dụ thứ hai: Một công ty vận tải hàng hóa thấy đường bộ thường bị kẹt xe liền phát triển phương tiện vận tải đường sông. Như vậy vừa có lợi cho công ty mình mà vừa phục vụ hiệu quả cho người tiêu dùng, tức không chỉ nghĩ đến lợi nhuận cho mình mà còn có tinh thần trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của đại chúng, nghĩa là lợi mình lợi người.
Kinh doanh là giúp cho sinh hoạt xã hội cân bằng và tương trợ lẫn nhau dựa vào nguyên tắc lợi mình lợi người (chứ không phải lợi mình hại người).
NH: Thưa thầy, nếu áp dụng đạo Phật vào kinh doanh thì có điểm gì hạn chế? Khó khăn?
HT.TVM: Trong giới Phật tử không ít người có liên hệ đến ngành kinh doanh. Để việc kinh doanh mang lại lợi ích cho xã hội, thì người Phật tử phải thông hiểu nguyên tắc đạo đức trong giáo lý nhà Phật; khi đó thì chỉ có lợi chứ không có hại. Nguyên tắc chính yếu đó là phải nhận thức đúng và hành xử tốt. Đúng là đúng với quy luật tự nhiên và quy định xã hội. Tốt là không hại mình hại người, hay lợi mình hại người.
Cũng chính vì nguyên tắc đó mà Phật giáo có hạn chế một số ngành kinh doanh có hại như kinh doanh ma túy, rượu bia, chất độc, vũ khí, sát sinh v.v. Nếu doanh nhân không kinh doanh những thứ đó thì sẽ không gây tổn hại cho con người, cho xã hội, cho môi sinh và cho nền hòa bình thế giới.
Tất nhiên không có gì tuyệt đối. Tính đạo đức thực tế trong cuộc sống là tương đối vì chỉ cần hiệu quả tốt nhất chứ không thể hoàn hảo. Ví dụ như vua Trần Nhân Tông, khi chưa đi tu nhưng đã là Phật tử, đã hiểu rõ lẽ nhân quả, mà vẫn điều quân khiển tướng ra trận đánh giặc ngoại xâm. Trong hoàn cảnh đất nước cần người cầm quân đánh giặc, Phật tử Trần Nhân Tông là người biết rõ đạo lý mà hy sinh đi đánh giặc thì sẽ giảm thiểu tối đa tổn hại tài sản và nhân mạng cho cho cả hai bên, nếu để người cầm quân hung bạo hiếu sát thì sẽ gây ra vô số thiệt hại. Lịch sử cho thấy thời Lý Trần là thời hòa bình thịnh vượng nhất của đất nước Việt Nam vì đã biết ứng dụng đạo Phật vào trong việc cai quản đất nước, về mọi mặt, không ngoại trừ phương diện kinh tế mà kinh doanh là một phần trong đó.
NH: Thưa thầy, nếu ứng dụng vào kinh doanh thì theo đạo Phật yếu tố nào giúp doanh nhân đạt được hiệu quả cao?
HT.TVM: Đạo Phật có ba yếu tố giúp cho mọi sinh hoạt đều có thể trở nên tốt đẹp, đó là trong lành (giới), định tĩnh (định), sáng suốt (tuệ) mà trong đời sống hàng ngày thường được biểu hiện dưới ba hình thức thiết thực là thận trọng, chú tâm, và quan sát. Nếu doanh nhân biết ứng dụng ba yếu tố này thì sẽ rất dễ thành công.
- Thận trọng là cẩn thận kỹ lưỡng trong mọi công việc…
- Chú tâm là sự chuyên tâm, thành ý, không xao lãng.
- Quan sát là xem xét thẩm tra một cách khách quan rõ ràng.
Đó là ba yếu tố cần thiết giúp chúng ta biết điều chỉnh cho hoàn hảo tất cả mọi lãnh vực hoạt động của con người dù việc nhỏ hay lớn. Ví dụ như trước khi đầu tư vào một việc gì cần phải chú tâm quan sát một cách thận trọng để xem chúng ta nên kinh doanh gì, có phù hợp với khả năng và vốn đầu tư không, thị trường tiêu dùng như thế nào v.v. Như vậy kế hoạch đầu tư mới khả thi.
Ngoài ra còn có bốn điều kiện cơ bản để thành công gọi là bốn điều như ý (Iddhipāda), đó là:
1) Có nhu cầu hay nguyện vọng chính đáng (Chand’iddhipāda).
2) Có chuyên cần nỗ lực để thực hiện (Viriy’iddhipāda).
3) Có quyết tâm không thối chí nản lòng (Citt’iddhipāda).
4) Có nhận thức rõ tiến trình thực hiện (Vimams’iddhipāda).
Thiếu bốn điều kiện trên thì không thể nào thành công trong bất kỳ việc gì, kể cả kinh doanh.
Thực ra, trong Phật giáo có vô số những pháp giúp cho doanh nhân làm giàu một cách chân chính, ví dụ Tứ nhiếp pháp, Tứ vương pháp v.v.
NH: Nhân tiện xin thầy cho một ví dụ nữa ạ.
HT.TVM: Ví dụ như 4 pháp sau đây:
1/ Thức thời đạt vụ (saccamedha). 2/ Thông hiểu nhân tâm (purisamedha). 3/ Có biện pháp đúng (sammāpāsa). 4/ Biết cách giao tiếp (vācāpeyya) có thể giúp doanh nhân thành đạt một cách chính đáng.
NH: Thưa thầy, những người bản chất đã tốt, có thể dễ dàng thực hành những yếu tố trên, còn những doanh nhân không biết cách, chỉ tập trung vào lợi riêng thì bằng cách nào giúp họ trở lại ‘hướng thiện’ được ạ?
HT.TVM: Nếu được, nên mở những lớp giáo dục đào tạo hay những buổi thảo luận về đạo đức trong kinh doanh để những người có kinh nghiệm trong lãnh vực này truyền đạt cho người khác. Sách báo viết về những đề tài này cũng là phương tiện truyền đạt những thông tin tích cực. Đồng thời, những Phật tử chân chính nên ứng dụng đạo đức kinh doanh trước và chứng minh được sự thành công của mình để làm những tấm gương điển hình cho những người khác.
NH: Thưa thầy, có cách nào ứng dụng những giá trị trên vào kinh doanh một cách đơn giản nhất không ạ?
HT.TVM: Thường biết mình biết người hay nói cách khác là thường sống tỉnh thức. Biết mình trong tỉnh thức thì mới điều chỉnh được nhận thức và hành vi cho đúng tốt với mọi người.
NH: Thưa thầy, vậy doanh nhân có cần phải ngồi thiền hàng ngày để có khả năng biết mình trong tỉnh thức như thầy nói không ạ?
HT.TVM: Không cần thiết phải ngồi, vì thường sáng suốt, định tĩnh, trong lành hay thận trọng, chú tâm quan sát chính mình trong công việc hay trong quan hệ với hoàn cảnh xung quanh đã là thiền rồi. Nỗ lực ngồi thiền đôi lúc tạo ra căng thẳng và mất thì giờ vô ích, vì cố gắng ổn định chính là làm mất sự ổn định tự nhiên, và ngay khi cố ổn định là đã tạo ra lực mâu thuẫn đối kháng rồi làm sao mà nhất tâm được nữa. Chính sự đối kháng này tạo ra bất an và tiêu hao năng lực.
Khi có điều kiện thuận lợi nên ngồi thư giãn buông xả cho tâm rỗng lặng trong sáng thì tâm sẽ tự ổn định chứ không phải dụng công hay dồn nén cho mất sức. Trong bản chất con người có khả năng tự điều chỉnh, nhưng vì quá vọng động tạo tác mà mất đi. Nếu doanh nhân hành động, nói năng, suy nghĩ một cách sáng suốt, định tĩnh, trong lành thì chính việc kinh doanh là thiền, chứ không phải ngồi thiền để kinh doanh.
NH: Thưa thầy, vậy thầy nghĩ thế nào về nói dối trong kinh doanh, liệu có chấp nhận được không, có đi ngược lại với giới luật nhà Phật không?
HT.TVM: Thực ra, lời nói dối hay không dối không quan trọng bằng lời nói đó có hại người hại mình hay không. Nói thật mà hại mình hại người thì còn nguy hiểm hơn là nói dối nhưng lợi mình, lợi người.
Một lời nói có giá trị cần 5 yếu tố:
1. Chân (sacca) là nói đúng là thật.
2. Thiện (kusala) là sự thật đó có hiệu quả tốt đẹp, lợi mình lợi người.
3. Mỹ (piya) là cách nói khéo léo sao cho người nghe vui lòng chấp nhận.
4. Thời (kāla) là nói đúng lúc.
5. Vị (thana) là nói đúng chỗ.
Không nên nói dối với mục đích lừa gạt để lợi mình hại người. Nhưng nếu biết cách nói khéo léo, hư cấu để đem lại lợi ích cho mình và người thì đó có vẻ như không đúng sự thật nhưng không phải là nói dối.
Trong kinh Phật có 2 câu chuyện sau đây minh chứng điều đó:
Câu chuyện thứ nhất: Có một người tiều phu, khi vợ mang thai muốn ăn món ngon vật lạ nhưng giữa rừng không có, liền nghĩ cách giả làm nhà sư đi vào cung vua khất thực, được vua cúng dường cao lương mỹ vị mang về cho vợ. Anh ta cố gắng giữ tướng mạo trang nghiêm khi đi khất thực nên nhà vua đem lòng tôn kính. Vua sai một vị đại thần đi theo nhà sư cho biết chỗ để vua sẽ đích thân đến cúng dường. Vị đại thần theo đến nơi phát hiện sự thật, nhưng nghĩ rằng nếu nói thật thì nhà vua sẽ nổi trận lôi đình mà giết gã tiều phu, vì vậy để không hại vua mà cũng không hại gã tiều phu, vị đại thần đã trình tấu rằng: “Thần theo đến trong rừng thì nhà sư biến mất”. Nói như vậy là hư cấu chứ không nói dối vì nhà sư bỏ y vàng ra trở lại một tiều phu cũng giống như biến mất tướng mạo nhà sư.
Câu chuyện thứ hai: Một nhà sư (thật) đang ngồi thiền trong rừng thấy một con nai chạy ngang qua, sau đó có mấy người thợ săn đến hỏi nhà sư có thấy con nai chạy ngang qua đây không. Nhà sư đứng dậy và nói: “Đứng đây ta không thấy con nai nào cả”. Lời nói có vẻ như dối nhưng lại thật vì khi ngồi thì thấy chứ khi đứng đâu có thấy.
Như vậy vấn đề là ở chỗ lương tâm và cách thể hiện lời nói sao cho có hiệu quả lương thiện chứ không phải cứ nói thật mà lại có thâm ý hại người.
NH: Chúng con xin chân thành cảm ơn Hòa thượng đã giúp chúng con có cái nhìn mở rộng hơn về đạo đức kinh doanh.